Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới
Thông báo

Không có thông báo mới











Đăng nhập hệ thống
Tài khoản  
 


Lấy ý kiến góp ý của công dân
Thái độ phục vụ khi giải quyết công việc
Liên kết web
6
  • Bà Phan Thị Vân
    27/06
  • Ông Võ Văn Nhân
    10/06
  • Ông Trần Minh Thái
    06/06
    
Chi tiết tin tức
XÂY DỰNG BÁO CÁO KẾT QUẢ THANH TRA – MỘT VÀI KINH NGHIỆM
Người đăng: Đặng Phong .Ngày đăng: 01/05/2014 06:27 .Lượt xem: 6184 lượt.
Báo cáo kết quả thanh tra là sản phẩm tổng hợp cuối cùng của Đoàn thanh tra do đó hết sức quan trọng, qua đó đánh giá chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của Đoàn thanh tra. Báo cáo kết quả thanh tra còn là cơ sở quan trọng để người làm căn cứ xem xét ban hành Kết luận thanh tra, ra quyết định xử lý kết quả thanh tra một cách chính xác.
1. Báo cáo kết quả thanh tra: Cũng như các loại báo cáo khác, báo cáo kết quả thanh tra phải đảm bảo các yêu cầu sau: (1) Bảo đảm trung thực, chính xác, mạch lạc, rõ ràng: Khác với các loại báo cáo khác, báo cáo kết quả thanh tra yêu cầu từ ngữ phải đơn nghĩa rõ ràng, không dùng từ đa nghĩa (hiểu theo cách nào cũng được), hành văn mạch lạc, các sự kiện, nhận định, đánh giá phải có thông tin, số liệu cụ thể để chứng minh và cơ sở tham chiếu để phân định rõ mức độ ưu khuyết điểm hoặc sai phạm. Báo cáo phải phản ánh đúng sự thật khách quan, thể hiện đầy đủ các nội dung đã thanh tra và kết quả đã thu thập được, không được báo cáo những nội dung không được thanh tra và những vấn đề mà trong quá trình thanh tra chưa được xác nhận với đối tượng một cách rõ ràng, cụ thế. Những nhận định, đánh giá phải chính xác và khách quan, phải nghiên cứu đầy đủ quá trình diễn biến sự việc, hiện tượng để tìm nguyên nhân làm cơ sở cho việc đánh giá. Nếu không làm tốt vấn đề này thì đến giai đoạn tham mưu Kết luận thanh tra sẽ sai lầm, đó là tham mưu các giải pháp chỉ đạo, xử lý sẽ không đúng, không phù hợp với đòi hỏi của vấn đề. (2) Nội dung phải cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, để đạt được yêu cầu này cần phải: Tập trung đầu tư thời gian để chọn lọc số liệu, tình hình liên quan đến nội dung trọng tâm của quyết định thanh tra để đưa vào báo cáo, không nên ôm đồm về số liệu nếu không nói lên bản chất sự việc, nội dung để đảnh giá, kết luận vấn đề được thanh tra. Trường hợp cần thiết để giải thích, chứng minh thì có thể lập các phụ lục, mẫu bểu chi tiết các số liệu đính kèm theo. Từng nội dung báo cáo phải được trình bày cụ thể, mạch lạc, phù hợp với từng phần và xuyên suốt trong báo cáo, từ Kết quả thanh tra đến kết luận kiến nghị xử lý, do vậy cần tránh trình bày tràn lan hoặc sa vào chi tiết rườm rà, số liệu không chính xác. (3) Đầy đủ các nội dung, đúng phạm vi, thời kỳ thanh tra: Do nội dung, phạm vi, thời kỳ thanh tra được qui định rõ trong quyết định thanh tra và đề cương kế hoạch được phê duyệt, do vậy trong Báo cáo kết quả thanh tra phải bám sát tinh thần quyết định và đề cương thanh tra, phải báo cáo đầy đủ, không được bớt nội dung nếu không được sự đồng ý của người ra quyết định thanh tra. Trường hợp trong quá trình thanh tra, những vấn đề phát hiện mới mà nội dung vấn đề không nằm trong phạm vi nội dung quyết định thanh tra thì xử lý theo quy định khi đó có thể đưa vào báo cáo chung hoặc tách riêng thành báo cáo khác. (4) Báo cáo phải kịp thời: Báo cáo kịp thời thể hiện ý thức công vụ nói chung và trách nhiệm với công việc của Trưởng đoàn thanh tra. Báo cáo chậm trễ làm cho việc tham mưu và ban hành kết luận xử lý kết quả thanh tra mất đi tính kịp thời, có khi không còn ý nghĩa thậm chí gây ra hậu quả trong quản lý. Để có báo cáo kết quả thanh tra kịp thời, thông thường khi cuộc thanh tra đã thực hiện gọn được nội dung nào thì Trưởng đoàn cần tổng hợp báo cáo nội dung đó, hoặc đồng thời với tiến hành thanh tra Trưởng đoàn cần có sự chủ động cập nhật dần số liệu tình hình để dự thảo báo cáo không chờ đến khi kết thúc thanh tra. Khi đó bám vào đề cương thanh tra Trưởng đoàn chủ động xây dựng báo cáo các nội dung đã và đang thanh tra, quá trình này vừa soát lại vừa hoàn thiện nội dung thanh tra đồng thời chỉ đạo bổ sung hoàn thiện các thông tin, số liệu phục vụ cho việc đánh giá, kết luận vấn đề. 2. Một vài kinh nghiệm trong việc xây dựng báo cáo kết quả thanh tra (1) Cần có tinh thần chuẩn bị xây dựng báo cáo Ngay từ khi bắt tay vào thanh tra, vấn đề này phải là công việc có tính thường trực của Trưởng đoàn thanh tra, do vậy người trưởng đoàn phải: - Căn cứ đề cương thanh tra soát xét, xác định các nội dung cần báo cáo, định hình thứ tự, cách thức trình bày kết quả thanh tra sao cho đầy đủ, logic, dễ hiểu. - Tập trung chuẩn bị hồ sơ, tài liệu: quá trình thanh tra cần theo dõi, chỉ đạo các thành viên/nhóm công tác (thành viên) xem xét vấn đề và hướng dẫn việc báo cáo chuyên đề/nội dung (chuyên đề) được giao gắn với soát xét, cập nhật các biên bản làm việc, biên bản kiểm tra, xác minh kèm theo các báo cáo chuyên đề đó. - Cập nhật đầy đủ các văn bản báo cáo, giải trình (nếu có) của đối tượng thanh tra; các hồ sơ tài liệu thu thập được trong quá trình thanh tra. Cần lưu ý, quá trình chuẩn bị, các báo cáo chuyên đề và các biên bản làm việc, biên bản kiểm tra xác minh kèm theo, các văn bản báo cáo, giải trình của đối tượng thanh tra và các hồ sơ tài liệu thu thập được trong quá trình thanh tra cần phải được tập hợp, cập nhật theo nhóm vấn đề theo nội dung để giúp việc chuyển chúng thành thông tin trong báo cáo kết quả thanh tra dễ được cụ thể và mạch lạc. (2) Cần chủ động hình thành đề cương, bố cục khái quát Đề cương báo cáo kết quả thanh tra cần thực hiện theo mẫu quy định. Tuy nhiên một cuộc thanh tra khi triển khai thường có nhiều nội dung do đó việc xây dựng báo cáo phải xem xét sắp xếp việc trình bày khoa học tránh áp dụng mẫu một cách máy móc làm cho báo cáo khô cứng rập khuôn. Trên cơ sở đề cương bố cục khái quát, nếu cẩn thận hơn thì nên hình thành một dàn ý/dàn bài (dàn ý) và sắp xếp số liệu tình hình, kết quả kiểm tra theo nội dung dàn ý đó để việc báo cáo không dẫm đạp trùng lặp về nội dung, thông tin. Giải quyết vấn đề này, đề cương, bố cục báo cáo phải được hình thành khi xây dựng đề cương thanh tra và ngay từ khi bắt đầu triển khai thanh tra các nội dung, có như vậy Trưởng đoàn mới chủ động trong việc điều hành chung phục vụ việc cung cấp “nguyên liệu” cho quá trình tổng hợp báo cáo. Mặt khác để báo cáo kết quả thanh tra sinh động ngoài phần chung bắt buộc phải tuân thủ (phần căn cứ và tổng quan về các hoạt động), phần nội dung chính của báo cáo nên bố cục theo ba phần: khái quát một số đặc điểm tình hình; kết quả thanh tra; kết luận và kiến nghị. (3) Tập trung cho việc viết dự thảo báo cáo: Khi đã làm tốt hai khâu chuẩn bị đầu tiên thì đây là khâu quan trọng nhất, quyết định đến chất lượng báo cáo kết quả thanh tra, do vậy quá trình viết dự thảo cần lưu ý ở từng phần như sau: Khái quát một số đặc điểm tình hình cần ngắn, gọn, đủ, phải nêu được đối tượng thanh tra là ai, ở đâu với những đặc điểm khái quát cơ bản, nổi bật và đặc điểm, tình hình ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung thanh tra, không sa đà vào những vấn đề không liên quan đến việc xem xét, đánh giá kết luận thanh tra sau này. Để nắm được đặc điểm tình hình của đối tượng Trưởng đoàn phải đầu tư thời gian nghiên cứu đối tượng (nghiên cứu báo cáo của đối tượng, tìm hiểu qua các kênh thông tin khác có liên quan, diễn biến trước, trong và nhận định sau thanh tra). Phần kết quả thanh tra phải trình bày từng nội dung vấn đề thanh tra theo thứ tự nội dung đã được hình thành trên cơ sở đề cương báo cáo. “Nguyên liệu” của nó là báo cáo chuyên đề và các biên bản làm việc, biên bản kiểm tra xác minh kèm theo, báo cáo, giải trình của đối tượng và các hồ sơ tài liệu thu thập được trong quá trình thanh tra cần phải được tập hợp đã được tập hợp từ khâu chuẩn bị. Phần này không nên hạn chế về dung lượng vì đây là phần trọng tâm của báo cáo, là cơ sở cho việc nhận xét đánh giá, phân tích nguyên nhân xác định trách nhiệm. Tuy nhiên việc trình bày được thực hiện một cách rõ ràng, ngắn gọn Trưởng đoàn phải biết chọn lọc tổng hợp, cô đọng để không được làm mất “linh hồn” thông tin của “nguyên liệu” khi đưa vào báo cáo. Đây thực sự là vấn đề khó, là kỷ năng riêng của từng người. Để giải quyết vấn đề này, khi trình bày Báo cáo từng nội dung thanh tra nên tập hợp thông tin theo hướng: Đối tượng thanh tra quản lý nội dung được thanh tra như thế nào? cách thức triển khai thực hiện; nội dung được thanh tra trên thực tế đã diễn ra làm sao? cái gì làm được, mức độ hoàn thành so với yêu cầu, mục tiêu đặt ra; rút ra vấn đề gì mang tính bản chất để đánh giá kết quả thực hiện, hiệu quả công việc và công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Việc trình bày cần được nêu gắn với thông tin, số liệu cụ thể. Kết luận và kiến nghị xử lý: Đây là phần hết sức quan trọng. Qua thanh tra Đoàn thanh tra nhìn thấy gì ở đối tượng thanh tra trên tất cả các mặt: kết quả đạt được, hạn chế khuyết điểm, nguyên nhân do đâu, trách nhiệm thuộc về ai, giải pháp khắc phục, qua đó tham mưu cho người ra quyết định thanh tra đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp, có tính khả thi. Đây là nội dung mà qua đó thể hiện năng lực chuyên môn của trưởng đoàn, đây chính là “nguyên liệu” cơ bản để tham mưu Kết luận thanh tra. Người ra quyết định thanh tra chấp thuận hay không chấp nhận báo cáo kết quả thanh tra chính là ở nội dung này. Do vậy: Từ kết quả thanh tra Trưởng đoàn phải kết luận rõ từng nội dung một cách khách quan, chính xác, không được lấy ý kiến chủ quan của mình kết luận áp đặt. Kết luận phải nêu bật được các ưu điểm và các tồn tại, hạn chế. Do mục đích của thanh tra là hướng tới chấn chỉnh các sai phạm, hoàn thiện quản lý, do đó khi kết luận đối với các hạn chế, khuyết điểm cần phải chỉ rõ nguyên nhân, trách nhiện và phải thấu tình, đạt lý, có như vậy mới có tính thuyết phục cao, tranh thủ được sự đồng thuận. Về nguyên nhân bao giờ cũng có hai mặt khách quan và chủ quan. Do đó cần phải xem xét phân tích cụ thể về hạn chế của các quy định pháp luật trong việc điều chỉnh các nội dung/vấn đề thanh tra, đồng thời xem xét bối cảnh cụ thể trong đó nội dung đang còn tồn tại để đánh giá toàn diện nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm. Về trách nhiệm: cần khẳng định trách nhiệm của người đứng đầu đối với các hạn chế, khuyết điểm, sai phạm. Người đứng đầu chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện, tuy nhiên cần phải xác định rõ ai trực tiếp gây ra sai phạm (bằng chủ trương, bằng hành vi cụ thể) thì đó là đối tượng chịu trách nhiệm trực tiếp. Cần phải nêu rõ các qui định của pháp luật làm căn cứ để xác định tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị biện pháp xử lý. Trong trường hợp phát hiện có hành vi tham nhũng thì báo cáo phải xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xẩy ra tham nhũng theo quy định (do yếu kém về năng lực quản lý; thiếu trách nhiệm trong quản lý; bao che cho người có hành vi tham nhũng). Kết luận phải đảm bảo có lý, có tình, đó là: Từng nội dung/vấn đề được thanh tra phải đặt trong “môi trường” các quy định của pháp luật, nhất là khi kết luận về sai phạm, khuyết điểm. Muốn vậy Trưởng đoàn phải nắm chắc các quy định của pháp luật áp dụng chính xác không được chủ quan, trường hợp còn băn khoăn thì phải tra cứu, xem lại để áp dụng, vận dụng đúng. Tuy quy định của pháp luật là cơ sở cao nhất nhưng việc xem xét kết luận nội dung/vấn đề cũng cần phải được xem xét trong mối quan hệ tổng thể, đặc điểm tình hình chung và đặc điểm tình hình riêng của đối tượng (đây được xem như là yếu tố, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi xử lý sai phạm, khuyết điểm sau này). Vận dụng tốt vấn đề này chắc chắn đối tượng thanh tra tâm phục, khẩu phục khi nội dung/vấn đề được kết luận, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sữa chữa khắc phục hạn chế, khuyết điểm về sau. Từ đây cho thấy tính quan trọng của việc khái quát một số đặc điểm tình hình của đối tượng, nếu Trưởng đoàn không đầu tư cho vấn đề này thì khi đến đây việc đưa ra kết luận sẽ gặp khó khăn. Về kiến nghị xử lý kết quả thanh tra, thực tra không khó, vì đã có quy định của pháp luật, tuy nhiên cần lưu ý phải kiến nghị cụ thể, sát với từng nội dung vấn đề, chỉ rõ đói tượng phải thực hiện; kiến nghị gắn với tham chiếu cụ thể vào các căn cứ, quy định của pháp luật không viện dẫn chung chung. Do tính mục đích, tính chất của thanh tra cho nên trước hết cần phải ưu tiên nội dung kiến nghị thay đổi, bổ sung, điều chỉnh cơ chế, chính sách. Đối tượng của nhóm kiến nghị này là các cơ quan, các cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để làm được việc này cần phải nghiên cứu, xem xét hết sức chu đáo và kỹ lưỡng, xuất phát từ các quy định hiện có với thực tiễn đang diễn ra, qua đó xác định chính xác sự bất cập từ đó mới đưa ra kiến nghị. Tiếp đó là những kiến nghị đề xuất các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý. Đối tượng của nhóm này là các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện các nội dung/vấn đề được thanh tra. Cần căn cứ vào lỗi, hành vi vi phạm xuất phát không do lỗi của các quy phạm pháp luật để đề xuất các biện pháp cụ thể cụ thể. Sau cùng là kiến nghị xử lý về kinh tế (thu hồi tiền, tài sản bị thất thoát) đối tượng trực tiếp là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao trách nhiệm quản lý tiền, nhà sản nhà nước, tổ chức, đơn vị. Cần lưu ý rằng Báo cáo kết quả thanh tra là trách nhiệm của Trưởng đoàn nhưng là sản phẩm trí tuệ, công sức của cả Đoàn thanh tra do đó sau khi dự thảo xong Trưởng đoàn cần tổ chức lấy ý kiến của các thành viên trong Đoàn để báo cáo đảm bảo tính thống nhất và khách quan. Trường hợp có ý kiến không thống nhất thì bắt buộc phải được phản ảnh vào trong báo cáo và được bảo lưu làm cơ sở để xử lý sau này. Tóm lại: Báo cáo kết quả thanh tra là sản phẩm của Đoàn thanh tra có vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là cơ sở đầu vào quan trọng để người ra quyết định thanh tra kết luận nội dung, vấn đề được thanh tra một cách chính xác. Mối người có một kỷ năng riêng trong việc xây dựng báo cáo kết quả thanh tra, tuy nhiên do tính chất chung của công tác nghiệp vụ thì những vấn đề nêu trên theo tôi là cơ bản cần phải được tiếp tục trao đổi để thồng nhất hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động thanh tra nói chung, Đoàn thanh tra nói riêng. Mong rằng tất cả CBCC thanh tra cùng quan tâm tiếp tục tham gia trao đổi để ngày càng hoàn thiện hơn khả năng xây dựng báo cáo khi được giao làm trưởng đoàn thanh tra./.
[Trở về]
Các tin mới hơn:
Thanh tra Chính phủ chuẩn bị sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị và biểu dương điển hình tiên tiến “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Nhiều vi phạm trong quản lý ngân sách nhà nước
Xử phạt vi phạm hành chính hơn 250 triệu đồng
Phát hiện sai phạm hơn 200 triệu đồng
Nhiều vi phạm trong hoạt động xây dựng
Xử phạt vi phạm hành chính hơn 480 trường hợp
Thu hồi nộp ngân sách nhà nước đạt tỷ lệ gần 96%
Phải thu hồi sau thanh tra trên 80%
Phát hiện sai phạm hơn 1,1 tỷ đồng
Đơn vị đầu tiên kết thúc cuộc thanh tra chuyên đề diện rộng
    
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10  
    

Cổng thông tin điện tử Thanh tra Quảng Nam
Chịu trách nhiệm: Trần Minh Thái - Chánh Thanh tra tỉnh
Trụ sở: 52 Hùng Vương - Tp.Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 02353.859155 - 02353.858610 - Thiết kế bởi: QTI

Thống kê truy cập